I. Tìm hiểu pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật
1. Quyền được thông tin về pháp luật và trách nhiệm tìm hiểu, học tập pháp luật của công dân (Điều 2 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật)
- Công dân có quyền được thông tin về pháp luật và có trách nhiệm chủ động tìm hiểu, học tập pháp luật.
- Nhà nước đảm bảo, tạo điều kiện cho công dân thực hiện quyền được thông tin về pháp luật.
2. Các hành vi bị cấm (Điều 9 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật)
- Truyền đạt sai sự thật, phê phán nội dung pháp luật được phổ biến; không cung cấp thông tin, tài liệu theo quy định của pháp luật; cung cấp thông tin, tài liệu có nội dung sai sự thật, trái pháp luật, trái đạo đức xã hội, truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
- Lợi dụng phổ biến, giáo dục pháp luật để xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước; tuyên truyền chính sách thù địch, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
- Cản trở việc thực hiện quyền được thông tin, tìm hiểu, học tập pháp luật của công dân, hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân
- Lợi dụng việc thực hiện quyền được thông tin, tìm hiểu, học tập pháp luật để gây cản trở đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân, gây mất trật tự, an toàn xã hội.
3. Tuyên truyền viên pháp luật và những người được mời tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật ở cơ sở (Điều 37 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật)
- Người có uy tín, kiến thức, am hiểu về pháp luật được xem xét để công nhận là tuyên truyền viên pháp luật ở xã, phường, thị trấn hoặc được mời tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật ở cơ sở.
- Chủ tịch UBND phường quyết định công nhận tuyên truyền viên pháp luật.
- Tuyên truyền viên pháp luật và những người được mời tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật được cung cấp văn bản pháp luật; được tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật; hưởng thù lao, chế độ theo quy định của pháp luật.
II. Tìm hiểu pháp luật về hòa giải ở cơ sở
1. Tiêu chuẩn hòa giải viên (Điều 7 Luật Hòa giải ở cơ sở)
Người được bầu làm hòa giải viên phải là công dân Việt Nam thường trú tại cơ sở, tự nguyện tham gia hoạt động hòa giải và có các tiêu chuẩn sau đây;
- Có phẩm chất đạo đức tốt, có uy tín trong cộng đồng dân cư;
- Có khả năng thuyết phục, vận động nhân dân; có hiểu biết pháp luật.
2. Bầu, công nhận hòa giải viên (Điều 8 Luật Hòa giải ở cơ sở)
- Người có đủ tiêu chuẩn theo quy định tại Điều 7 Luật Hòa giải ở cơ sở thì có quyền ứng cử hoặc được Ban Công tác mặt trận phối hợp với các tổ chức thành viên của Mặt trận giới thiệu vào danh sách bầu hòa giải viên.
- Trưởng Ban công tác mặt trận chủ trì, phối hợp với tổ trưởng tổ dân phố bầu hòa giải viên bằng một trong các hình thức sau đây:
+ Biểu quyết công khai hoặc bỏ phiếu kín tại cuộc họp đại diện các hộ gia đình..
+ Phát phiếu lấy ý kiến các hộ gia đình.
- Kết quả bầu hòa giải viên:
+ Người được đề nghị công nhận là hòa giải viên phải đạt trên 50% đại diện hộ gia đình trong tổ dân phố đồng ý.
+ Trường hợp số người đạt trên 50% đại diện hộ gia đình trong tổ dân phố đồng ý nhiều hơn số lượng hòa giải viên được Chủ tịch UBND phường quyết định theo quy định tại khoản 2 Điều 12 Luật Hòa giải ở cơ sở thì danh sách người được đề nghị công nhận là hòa giải viên lấy theo kết quả bỏ phiếu từ cao xuống thấp;
+ Trường hợp số người được bầu không đủ để thành lập tổ hòa giải thì tổ chức bầu bổ sung cho đủ số lượng;
+ Trưởng ban công tác Mặt trận lập danh sách người được đề nghị công nhận là hòa giải viên gửi Chủ tịch UBND phường.
- Chủ tịch UBND phường ra quyết định công nhận hòa giải viên.
3. Thôi làm hòa giải viên (Điều 11 Luật Hòa giải ở cơ sở)
Thôi làm hòa giải viên được thực hiện trong các trường hợp sau đây:
- Theo nguyện vọng của hòa giải viên;
- Hòa giải viên không còn đáp ứng một trong các tiêu chuẩn quy định tại Điều 7 Luật Hòa giải ở cơ sở;
- Vi phạm nguyên tắc tổ chức, hoạt động hòa giải ở cơ sở theo quy định tại Điều 4 Luật Hòa giải ở cơ sở hoặc không có điều kiện tiếp tục làm hòa giải viên do bị xử lý vi phạm pháp luật;
Trường hợp thôi làm hòa giải viên thì tổ trưởng Tổ hòa giải đề nghị Trưởng ban công tác Mặt trận phối hợp với tổ trưởng tổ dân phố làm văn bản đề nghị Chủ tịch UBND phường ra quyết định thôi làm hòa giải viên.
Trường hợp thôi làm hòa giải viên đối với tổ trưởng tổ hòa giải thì Trưởng ban công tác Mặt trận phối hợp với tổ trưởng tổ dân phố làm văn bản đề nghị Chủ tịch UBND phường ra quyết định thôi làm hòa giải viên.
4. Tổ hòa giải
Tổ hòa giải có tổ trưởng và các hòa giải viên. Mỗi tổ hòa giải có từ 03 hòa giải viên trở lên, có tổ trưởng và các thành viên, trong đó có hòa giải viên nữ. Tổ trưởng tổ hòa giải do hòa giải viên bầu trong số các hòa giải viên. Việc bầu tổ trưởng tổ hòa giải được thực hiện dưới sự chủ trì của Trưởng ban công tác Mặt trận bằng hình thức biểu quyết công khai hoặc bỏ phiếu kín. Kết quả bầu tổ trưởng tổ hòa giải được lập thành văn bản và gửi Chủ tịch UBND phường để ra quyết định công nhận./.